Chương 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐAU
Cơ chế đau | Phản ứng viêm | Lượng giá và điều trị đau
LƯỢNG GIÁ VÀ ĐIỀU TRỊ ĐAU
3. Các phương pháp lượng giá đau chủ quan
Bảng câu hỏi McGill Pain rút gọn
Bảng câu hỏi chẩn đoán đau thần kinh DN4
Đánh giá đau ở trẻ em
II. Tổng
quan điều trị đau
III. Thang chỉ định điều trị đau
I.
LƯỢNG GIÁ ĐAU
Đau
là một hiện tượng chủ quan,
phức tạp, đa yếu tố, đa chiều,
mà không có một phương pháp đo lường
khách quan nào có thể thực sự định
lượng được. Nhận biết được
sự hiện diện của chứng đau đã
là rất quan trọng, nhưng lượng giá đau (evaluation) lại còn
là một bước chủ yếu và cần
thiết cho việc điều trị hiệu
quả đối với bệnh nhân. Vì
vậy, mỗi một bệnh nhân sẽ là
một đối chứng riêng và đó là
sự đánh giá so sánh hữu ích.
Đánh
giá đau được thực hiện trong
phạm vi rộng qua việc lượng giá
toàn bộ triệu chứng về tình
trạng đau. Việc lượng giá này
dựa trên một bảng thống kê đầy
đủ chi tiết gồm các bước chủ
yếu sau:
-
Hỏi bệnh nhân (và người nhà
bệnh nhân).
-
Khám lâm sàng và đặc biệt là khám
thần kinh.
-
Các xét nghiệm cận lâm sàng.
-
Đánh giá về hành vi thái độ và
sự tự chủ.
-
Tuổi, giới.
-
Vị trí đau và vị trí đặc biệt
của đau, thời gian đau.
-
Các nguyên nhân thúc đẩy đau
hoặc có liên quan đến đau.
-
Lan tỏa đau: đau khu trú hay lan
tỏa, lan tỏa đi đâu.
-
Tính chất đau: đau âm ỉ, đau
nhức, dao đâm, nẩy mạch, đau như
xé, đau day dứt…
-
Kiểu đau và thời gian cơn đau: đau
liên tục âm ỉ hay thành cơn, đau
tăng khi nào, nghỉ ngơi có hết đau
không? Có rối loạn giấc ngủ không?
-
Cường độ đau.
-
Các triệu chứng kèm theo: tê bì,
yếu, dị cảm.
-
Tiến triển của đau: đau tăng,
giảm, như cũ.
-
Các điều trị đã qua: thuốc,
vật lý trị liệu, phẫu thuật.
Hiệu quả ra sao?
Để
lượng giá cường độ đau, người
ta dùng các thang lượng giá chủ
quan, có thể là thang đo lường
chung (thang tự lượng giá), hoặc là
đo lường đa chiều nhằm phân
biệt các mức độ đau khác nhau.
Một
phương pháp lượng giá chuẩn mực
phải đáp ứng những tiêu chuẩn
sau đây:
-
Phải đo lường tốt cái cần đo,
phát hiện được những thay đổi
về cường độ có lợi trên lâm sàng.
-
Phương pháp lượng giá trung thành
khi các lần đo liên tiếp đều
giống nhau, trong những điều kiện
lâm sàng có vẻ giống nhau.
-
Thang lượng giá đau phải đơn
giản, dễ thực hiện để giúp
thực hiện lượng giá hàng ngày
hay thực hiện lượng giá trong
nhiều ngày và giúp ích chủ yếu
cho việc điều trị và điều dưỡng
bệnh nhân cũng như để lượng giá
các tình huống đặc biệt (đau ở
trẻ em, đau sau mổ...).
3.
Các phương pháp lượng giá đau
chủ quan.
3.1.
Các thang lượng giá một chiều.
Các
thang lượng giá một chiều dùng để
lượng giá một cách chung nhất cường
độ đau hay là mức độ giảm đau,
bao gồm:
-
Thang Likert 5 điểm (a five-point
Likert scale): là thang thông dụng
nhất, được tạo nên bởi 5 loại
từ mô tả cường độ đau được
sắp xếp theo thứ tự:

-
Thang số (NRS: Numerical Rating Scale)
cho bệnh nhân một điểm từ 0 đến 10 (hay 100). Ví dụ điểm 0 nghĩa là không
đau, và điểm cao nhất là đau dữ
dội không thể chịu nổi. Đối
với sự giảm đau, người
ta có thể yêu cầu bệnh nhân cho
biết tỷ lệ phần trăm giảm đau
so với mức độ đau ban đầu:

-
Thang nhìn (VAS: Visual Analogue Scale)
thường được trình bày dưới
dạng đường ngang định hướng
từ phải sang trái, ví dụ đầu bên
trái tương ứng với không
đau, đầu bên phải tương ứng
với đau dữ dội không thể
chịu nổi:

-
Trong lâm sàng, có thể tổng hợp 3
thang lượng giá trên thành một
thang thống nhất như sau (thang
Likert 11 điểm):

Các
thang lượng giá một chiều có ưu
điểm là đơn giản dễ thực
hiện, có thể giúp cho việc lập
đi lập lại nhiều lần để so sánh,
hữu ích cho việc nghiên cứu đáp
ứng của điều trị đau. Tuy nhiên
chúng cũng có nhược điểm là các
thang này xem chứng đau như một
hiện tượng đơn giản, chỉ lượng
giá một chiều mà không xét đến
các yếu tố đa chiều của đau.