Chương 2. CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐAU
Thuốc giảm đau gây nghiện | Gluco-corticoid | Thuốc chống viêm non-steroid | Thuốc chữa goutte | Thuốc phong bế dẫn truyền | Thuốc hỗ trỡ điều trị đau
THUỐC CHỐNG VIÊM NON-STEROID
(Nonsteroidal
anti-inflammatory drugs - NSAIDS)
Tác dụng chung và cơ chế | Nguyên tắc chung khi sử dụng thuốc | Dẫn xuất Acid Salicylic (Aspirin) | Dẫn xuất Pyrazolon (Analgin) | Dẫn xuất Indol (Indomethacin) | Dẫn xuất Phenylacetic (Diclofenac) | Dẫn xuất Propionic (Ibuprofen) | Dẫn xuất Oxicam | Dẫn xuất Anilin (Paracetamol) | Nhóm COXIB | Các chất đối kháng PG | Thuốc giảm đau thuần tuý
Ngay
từ năm 460-377 TrCN, Hyppocrates người
được coi là ông tổ của nghề y, đã
phát hiện ra tác dụng giảm đau hạ
sốt của nước chiết xuất từ vỏ cây
liễu (còn gọi là cây thùy dương). Nhưng
mãi đến năm 1838 Raffaelle Piria (ý) mới
tinh chế được Acid Acetylsalicylic từ
vỏ cây này, và 15 năm sau (1853) Charle
Fredenic Gerherdt nhà hóa học người Đức
mới chế tạo được Acid Acetylsalicylic
thành thuốc kháng viêm hạ sốt giảm đau
đầu tiên của nhân loại. Đến năm
1899, sản phẩm Aspirin (Acid
Acetylsalicylic) đầu tiên của hãng Bayer
được lưu hành trên thị trường. Cho
tới nay đã hơn 100 năm ra đời, nhưng
Aspirin vẫn còn được trọng dụng với
nhiều tác dụng hứa hẹn như: phòng
chống nhồi máu cơ tim, giảm tỷ lệ
mắc ung thư đại trực tràng... Sau
Aspirin, là Phenylbutason (1949) và
Indomethacin (1963) được tổng hợp.
Tiếp theo là sự ra đời của hàng
loạt thế hệ thuốc NSAID khác như:
Ibuprofen (1969), Fenoprofen (1970), Ketoprofen
(1973), Naproxen (1974), Acid Tiaprofenic
(1975), Sulidac (1976), Diflunisal (1977),
Piroxicam (1981), Nimesulide (1983), Acemetacin
(1985), Tenoxicam (1987), Meloxicam (1996), và
gần đây là Celecoxib, Rofecoxib (1998)...
1.
Tác dụng hạ sốt.
-
Tác dụng lên trung tâm: thí nghiệm tiêm
thuốc thẳng vào trung khu điều hòa thân
nhiệt (nhân Caudatus) thì thấy tác dụng
hạ sốt rõ rệt. Thuốc không gây hạ
thân nhiệt ở người bình thường.
-
Thuốc làm tăng quá trình thải nhiệt như:
giãn mạch da, tăng tiết mồ hôi, và không
tác dụng trên quá trình sinh nhiệt.
-
Thuốc tác dụng trực tiếp lên cơ chế
gây sốt: Khi vi khuẩn, nấm, độc
tố...(gọi chung là chất gây sốt -
pyrogen ngoại lai) xâm nhập vào cơ thể
sẽ kích thích bạch cầu sản xuất các
chất gây sốt nội tại. Chất này
hoạt hóa men cylo-oxygenase (COX), làm
tổng hợp PG (nhất là PG E1 và
E2) từ acid arachidonic của vùng
dưới đồi. PG sẽ gây sốt do làm tăng
quá trình tạo nhiệt (rung cơ,
tăng hô hấp, tăng chuyển hóa) và giảm
quá trình thải nhiệt (co mạch da...).
Thuốc hạ sốt do ức
chế COX làm giảm tổng hợp PG do đó làm
giảm quá trình gây sốt nên có
tác dụng hạ sốt. Thuốc không tác động
lên nguyên nhân gây sốt nên chỉ có tác
dụng điều trị triệu chứng.
2.
Tác dụng chống viêm:
2.1. Đặc điểm tác dụng chống viêm:
+
Tác dụng lên hầu hết các loại viêm
không kể nguyên nhân.
+
Chỉ ở liều cao mới có tác dụng
chống viêm.
+
Thuốc có tác dụng lên thời kỳ đầu
của quá trình viêm.
2.2.
Cơ chế:
-
Ức chế sinh tổng hợp PG do ức chế
cyclo-oxygenase (COX) làm giảm tổng hợp
PG.

Năm
1972 Flower và Vane đưa ra giả thuyết
về sự có mặt của hai chất đồng
dạng COX1 và COX2, đến thập niên 1990
với kỹ thuật phân tử, người ta đã
xác định được chất COX2 là một
loại mARN khác so với COX1, hai chất đồng
dạng này có cùng trọng lượng phân
tử (71kDa), có 60% acid amin giống nhau và
được tìm thấy ở những vị trí khác
nhau trong tế bào:
+
COX1 có mặt trong các tổ chức bình thường,
là một men “quản
gia” về cấu trúc, điều hòa các
hoạt động sinh lý của hệ thống tiêu
hóa, thận và nội mô mạch máu. Nếu
COX1 bị ức chế sẽ gây ra các tác
dụng bất lợi trên các tổ chức bình
thường như hệ tiêu hóa, thận và
tiểu cầu.
+
COX2 hầu như không có mặt trong các tổ
chức bình thường, mà được tạo ra do
cảm ứng, chủ yếu tại các tổ chức
viêm. Nếu COX2 bị ức chế sẽ kiểm soát
được quá trình viêm mà không ảnh hưởng
tới các chức năng khác của cơ thể.
Trên
cơ sở này, người ta thấy rằng sự an
toàn của thuốc kháng viêm phụ thuộc vào
khả năng ức chế chuyên biệt, ức
chế ưu thế, ức chế chọn lọc hay không
ức chế chọn lọc men COX2. Một số
thuốc kháng viêm mới như Nimesulide,
Acemetacin (ức chế ưu thế COX2),
Meloxicam (ức chế chọn lọc men COX2),
Celecoxib, Rofecoxib, Valdecoxib, Etoricoxib
(ức chế chuyên biệt COX2) có các tác
dụng phụ giảm đi nhiều so với các
thuốc kháng viêm cổ điển khác. Tuy nhiên,
trên thực tế không có thuốc kháng viêm
nào hoàn toàn chỉ ức chế COX2, tức là
chỉ có tác dụng kháng viêm mà hoàn toàn
không có tác dụng bất lợi.
-
Thuốc còn làm bền vững màng lysosom do
đó hạn chế giải phóng các enzym của
lysosom trong quá trình thực bào, nên có
tác dụng chống viêm.
-
Ngoài ra thuốc còn ức chế các chất
trung gian hóa học của quá trình viêm như
các kinin huyết tương, ức chế cơ
chất của enzym, ức chế sự di chuyển
của bạch cầu, ức chế phản ứng kháng
nguyên - kháng thể.
-
Riêng nhóm salicylat còn làm tăng giải phóng
steroid nên làm tăng tác dụng chống viêm.
Tác
dụng chống viêm của các thuốc khác
nhau, lấy aspinrin làm chuẩn thì Voltaren,
Flurbiprofen, Indomethacin có tác dụng
chống viêm mạnh gấp 10 lần, Naproxen,
Piroxicam, Pirprofen gấp từ 6,5 - 4,9 đến
3,9 lần. Có thể sắp xếp hiệu lực
chống viêm của các thuốc theo thứ tự
của chúng với liều trung bình như sau:
Indometacin > Flurbiprofen > Voltaren >
Pirocicam > Pirprofen > Ketoprofen >
Naproxen > Butadion > Analgin >
Amidopyrin > Aspirin.